Nghị định số 252/2026/NĐ-CP quy định rất toàn diện và chặt chẽ về các hoạt động kinh tế mới trên nền tảng thương mại điện tử (TMĐT) và các giao dịch xuyên biên giới nhằm kiểm soát hiệu quả dòng tiền, chống thất thu ngân sách và bảo vệ quyền lợi các bên liên quan. Dưới đây là chi tiết các quy định pháp lý quan trọng nhất:

Định nghĩa và Phạm vi các nền tảng TMĐT thuộc diện quản lý
Nghị định đưa ra các tiêu chí kỹ thuật và thực tế để xác định các nền tảng số chịu sự điều chỉnh pháp luật về quản lý thuế. Cụ thể, tại Khoản 5 và Khoản 6 Điều 3, nền tảng TMĐT hoặc nền tảng số có chức năng đặt hàng trực tuyến và thanh toán trực tuyến là hệ thống đồng thời đáp ứng các điều kiện sau:
- Cho phép người mua lựa chọn hàng hóa, dịch vụ và xác lập giao dịch mua bán với người bán thông qua môi trường điện tử của nền tảng.
- Trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào quá trình thanh toán giữa người mua và người bán, đồng thời có khả năng kiểm soát, đối soát hoặc xác nhận giao dịch thanh toán. Điều này bao gồm việc thu tiền từ người mua rồi chuyển lại cho người bán, hoặc phối hợp với các tổ chức trung gian thanh toán để kiểm soát dòng tiền giao dịch.
- Trường hợp loại trừ: Các nền tảng số chỉ thuần túy cung cấp dịch vụ đăng tải thông tin, quảng cáo hoặc chỉ kết nối giới thiệu giao dịch mà hoàn toàn không tham gia, không can thiệp vào quá trình thanh toán thì không thuộc phạm vi của quy định này.
Các hoạt động kinh tế mới và Đối tượng áp dụng thuế
Các hoạt động kinh tế mới phát sinh trên môi trường số được định danh rõ ràng tại Điểm b Khoản 1 Điều 2 (Trang 6) bao gồm:
- Hoạt động kinh doanh dịch vụ nội dung thông tin số: Các sản phẩm, dịch vụ nội dung số được phân phối xuyên biên giới hoặc trong nước.
- Hoạt động kinh tế số khác: Các mô hình kinh doanh dịch vụ trực tuyến, chia sẻ tài nguyên, trung gian công nghệ có phát sinh dòng tiền chi trả thu nhập cho các cá nhân, hộ kinh doanh.
- Nhà cung cấp nước ngoài (NCCNN): Các tổ chức, cá nhân nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam nhưng có hoạt động kinh doanh TMĐT, dịch vụ số xuyên biên giới phát sinh doanh thu chịu thuế tại Việt Nam.
Cơ chế Khai thuế, Khấu trừ và Nộp thay đối với giao dịch TMĐT (Điều 43)
Để tối ưu hóa việc thu thuế và giảm thiểu đầu mối kê khai trực tiếp từ hàng triệu cá nhân kinh doanh riêng lẻ, Nghị định thiết lập cơ chế Khấu trừ, khai thay và nộp thay triệt để thông qua các chủ thể trung gian tại Điều 43:
Đối với chủ quản nền tảng TMĐT (Trong nước và nước ngoài) có chức năng đặt hàng và thanh toán trực tuyến:
- Thuế Giá trị gia tăng (GTGT): Có trách nhiệm khấu trừ, nộp thay thuế GTGT phải nộp đối với mỗi giao dịch cung cấp hàng hóa, dịch vụ phát sinh doanh thu trong nước của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh hoạt động trên sàn của mình.
- Thuế Thu nhập cá nhân (TNCN):
- Đối với cá nhân cư trú kinh doanh trên nền tảng: Khấu trừ, nộp thay thuế TNCN đối với mỗi giao dịch phát sinh doanh thu cả trong nước lẫn ngoài nước.
- Đối với cá nhân không cư trú kinh doanh trên nền tảng: Khấu trừ, nộp thay thuế TNCN đối với các giao dịch phát sinh doanh thu trong nước.
- Thuế của Nhà cung cấp nước ngoài: Khấu trừ và nộp thay cả thuế GTGT lẫn thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đối với từng giao dịch kinh doanh phát sinh doanh thu tại Việt Nam của các NCCNN hoạt động trên sàn.
Đối với tổ chức kinh doanh tại Việt Nam mua dịch vụ trực tuyến:
- Trường hợp tổ chức kinh doanh tại Việt Nam (áp dụng phương pháp khấu trừ thuế) mua hàng hóa, dịch vụ của NCCNN hoặc cá nhân không cư trú trên nền tảng TMĐT, tổ chức này có nghĩa vụ khấu trừ, nộp thay thuế GTGT, thuế TNDN (đối với NCCNN) và thuế TNCN (đối với cá nhân không cư trú) theo quy định.
Đăng ký thuế và giao dịch điện tử của Nhà cung cấp nước ngoài (Điều 40)
- Cơ chế trực tiếp khai nộp: NCCNN trực tiếp thực hiện đăng ký giao dịch thuế điện tử và đăng ký thuế lần đầu thông qua Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế. Họ được phép tự khai, tự tính và nộp thuế theo tháng hoặc theo từng lần phát sinh bằng các loại ngoại tệ tự do chuyển đổi hoặc đồng Việt Nam.
- Điểm đặc cách: Trường hợp doanh thu phát sinh tại Việt Nam của NCCNN đã được các tổ chức mua dịch vụ tại Việt Nam hoặc sàn TMĐT khấu trừ, nộp thay toàn bộ nghĩa vụ thuế thì NCCNN không phải thực hiện thủ tục đăng ký thuế trực tiếp đối với phần doanh thu đó.
Cơ chế phối hợp và Chia sẻ dữ liệu quản lý dòng tiền xuyên biên giới
Sự kiểm soát hiệu quả đối với kinh tế số xuyên biên giới đòi hỏi một mạng lưới kết nối thông tin liên thông giữa các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức tài chính được quy định rõ tại Chương V:
- Trách nhiệm cung cấp thông tin của Chủ quản sàn TMĐT và các đơn vị trung gian (Khoản 7 Điều 60): Khi cơ quan thuế yêu cầu bằng văn bản, các chủ quản sàn TMĐT, đơn vị vận chuyển (logistics), đơn vị thanh toán, trung gian thanh toán, tổ chức thẻ quốc tế phải cung cấp đầy đủ thông tin:
- Thông tin định danh người bán: Mã số thuế, số định danh cá nhân/hộ chiếu, số điện thoại của chủ gian hàng.
- Thông tin doanh thu/thu nhập: Doanh thu bán hàng, tài khoản thanh toán (ngân hàng, ví điện tử, tiền di động), chi tiết giao dịch thanh toán qua tài khoản, số lượt bán, số lượt giao hàng, các khoản phí sàn, phí vận chuyển, phí COD.
- Phối hợp của Ngân hàng Nhà nước (Điểm d.5 Khoản 3 Điều 58): Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tài chính chỉ đạo, hướng dẫn các ngân hàng thương mại và tổ chức trung gian thanh toán xây dựng cơ chế giám sát các giao dịch thanh toán xuyên biên giới trong TMĐT và dịch vụ số. Họ phải cung cấp kịp thời các thông tin giao dịch đáng ngờ hoặc dòng tiền lớn cho cơ quan thuế phục vụ công tác thanh tra và thực hiện các điều ước quốc tế về thuế.
- Phối hợp của Bộ Công Thương và Bộ Công An (Điều 58): Bộ Công Thương chia sẻ dữ liệu về việc cấp phép hoạt động sàn TMĐT, hoạt động nhượng quyền thương mại và các hành vi vi phạm thị trường. Bộ Công An phối hợp kết nối dữ liệu dân cư để định danh chính xác các chủ thể kinh doanh trực tuyến và đấu tranh phòng chống tội phạm trốn thuế trên không gian mạng.


