8 Biện Pháp Cưỡng Chế Thuế Theo Nghị Định 252/2026/NĐ-CP Mới Nhất

Tìm hiểu chi tiết 8 biện pháp cưỡng chế thuế mới nhất theo Nghị định 252/2026/NĐ-CP. Hướng dẫn cách xử lý thực tế và các quyền lợi hợp pháp của người nộp thuế.

8 Biện Pháp Cưỡng Chế Thuế Theo Nghị Định 252/2026/NĐ-CP Mới Nhất

Trong quá trình vận hành sản xuất kinh doanh, việc gặp phải những khó khăn tài chính dẫn đến chậm trễ thực hiện nghĩa vụ thuế là điều mà không một cá nhân hay doanh nghiệp nào mong muốn. Để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật nhưng vẫn mở ra những cơ hội tháo gỡ khó khăn cho người nộp thuế, Nghị định số 252/2026/NĐ-CP ban hành ngày 30 tháng 6 năm 2026 quy định rất chi tiết về trình tự, thủ tục cũng như các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế.

Việc thấu hiểu tường tận từng biện pháp cưỡng chế từ nhẹ đến nặng không chỉ giúp doanh nghiệp tuân thủ đúng pháp luật mà còn là “chìa khóa” giúp người nộp thuế bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chủ động tìm kiếm các giải pháp giải tỏa dòng tiền thiết yếu trong những thời điểm ngặt nghèo nhất.

Nguyên tắc cưỡng chế và Ngưỡng chưa áp dụng theo quy định mới

Trước khi đi vào chi tiết các biện pháp cụ thể, người nộp thuế cần biết rằng cơ quan quản lý thuế không tự ý áp dụng các biện pháp cưỡng chế một cách tùy tiện. Pháp luật quy định cơ quan thuế phải tiến hành xác minh hành vi phát tán tài sản của người nộp thuế dựa trên các dấu hiệu bất thường như chuyển nhượng, tẩu tán số dư tài khoản trước khi chính thức ban hành quyết định cưỡng chế nhằm bảo đảm tính hiệu quả thu hồi nợ. Quyết định cưỡng chế và quyết định chấm dứt cưỡng chế phải được gửi bằng phương thức điện tử và đăng tải công khai trên trang thông tin điện tử của ngành thuế hoặc hải quan ngay trong ngày ban hành.

Một điểm cực kỳ nhân văn và tiến bộ của Nghị định số 252/2026/NĐ-CP chính là việc thiết lập ngưỡng nợ chưa áp dụng biện pháp cưỡng chế. Nhằm giảm bớt gánh nặng hành chính cho người dân và tập trung nguồn lực vào các khoản nợ lớn, cơ quan thuế sẽ chưa áp dụng biện pháp cưỡng chế nếu tổng số tiền nợ thuế của người nộp thuế dưới các mức sau:

  • Đối với tổ chức, doanh nghiệp: Tổng nợ dưới 3.000.000 đồng.
  • Đối với hộ gia đình, hộ kinh doanh, cá nhân và cá nhân kinh doanh: Tổng nợ dưới 1.000.000 đồng.

Quy định này chỉ không áp dụng trong trường hợp cơ quan thuế phát hiện người nộp thuế có hành vi phát tán tài sản hoặc đã bỏ trốn, không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh.

Chi Tiết 8 Biện Pháp Cưỡng Chế Thuế Theo Trình Tự Pháp Luật

Nghị định quy định rõ ràng 8 biện pháp cưỡng chế thuế được áp dụng theo cấp độ tăng dần từ hạn chế dòng tiền, phong tỏa tài sản cho đến đình chỉ hoạt động kinh doanh.

Biện pháp 1: Trích tiền từ tài khoản, phong tỏa tài khoản (Điều 66)

Đây là biện pháp cưỡng chế phổ biến và được áp dụng đầu tiên đối với bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào có mở tài khoản tại các tổ chức tín dụng (TCTD) hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. Khi có quyết định cưỡng chế, phía ngân hàng có trách nhiệm phong tỏa ngay tài khoản của người nộp thuế tương ứng với số tiền bị cưỡng chế. Ngân hàng sẽ thực hiện trích chuyển tiền trực tiếp vào Ngân sách Nhà nước chậm nhất là ngày làm việc tiếp theo.

Tuy nhiên, pháp luật cũng bảo vệ các dòng tiền chuyên dụng phục vụ mục đích an sinh xã hội và đầu tư đặc biệt. Theo đó, các tài khoản sau đây tuyệt đối không bị cưỡng chế: tài khoản nguồn vốn ODA và vay ưu đãi; tài khoản kinh phí bảo trì nhà chung cư; tài khoản là tài sản bảo đảm nợ xấu; và tài khoản quỹ bình ổn giá xăng dầu.

Biện pháp 2: Khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập (Điều 67)

Biện pháp này chỉ áp dụng riêng đối với người nộp thuế là cá nhân. Điều kiện để kích hoạt biện pháp này là cá nhân đó đã bị áp dụng cưỡng chế trích tài khoản (Biện pháp 1) quá 30 ngày nhưng cơ quan thuế vẫn không thu đủ nợ thuế. Đồng thời, cá nhân này phải có thu nhập ổn định từ lương, tiền công tại các cơ quan, tổ chức theo biên chế hoặc hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên.

Để đảm bảo duy trì cuộc sống cơ bản cho người lao động, pháp luật khống chế tỷ lệ khấu trừ rất rõ ràng: khấu trừ từ 10% đến tối đa 30% tổng số tiền lương hằng tháng của cá nhân. Đối với các khoản thu nhập hợp pháp khác bên ngoài lương, tỷ lệ khấu trừ tối đa là 50%.

Biện pháp 3: Dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu (Điều 68)

Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, đây là một đòn đánh trực diện vào hoạt động giao thương. Biện pháp này được áp dụng khi các biện pháp trích tài khoản hay khấu trừ lương không mang lại hiệu quả. Cơ quan hải quan phải gửi thông báo bằng văn bản hoặc thông báo điện tử cho người nộp thuế trước 05 ngày làm việc trước ngày chính thức dừng làm thủ tục.

Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn có thể xuất khẩu các mặt hàng có thuế suất 0%, hoặc các loại hàng hóa đặc biệt phục vụ quốc phòng, an ninh, phòng chống thiên tai, dịch bệnh, cứu trợ khẩn cấp, hàng viện trợ nhân đạo.

Biện pháp 4: Ngừng sử dụng hóa đơn (Điều 69)

Khi doanh nghiệp bị cưỡng chế ngừng sử dụng hóa đơn, toàn bộ hoạt động xuất hóa đơn điện tử có mã hoặc không có mã của cơ quan thuế đều bị khóa trên hệ thống quốc gia. Điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp tạm thời bị “tê liệt” khả năng bán hàng và ghi nhận doanh thu hợp pháp.

Mặc dù vậy, Nghị định đã mở ra một lối thoát cực kỳ quan trọng cho doanh nghiệp để duy trì sản xuất. Nếu doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng hóa đơn lẻ theo từng lần phát sinh để có dòng tiền nộp nợ thuế hoặc chi trả các chi phí hoạt động tối thiểu, cơ quan thuế sẽ chấp thuận cấp hóa đơn lẻ với điều kiện doanh nghiệp phải nộp ngay tối thiểu 18% tổng giá trị thanh toán ghi trên hóa đơn đó vào Ngân sách Nhà nước.

Biện pháp 5: Thu tiền, tài sản khác do bên thứ ba đang nắm giữ (Điều 70)

Nếu doanh nghiệp bị cưỡng chế có các khoản nợ phải thu từ đối tác (bên thứ ba) đã đến hạn thanh toán, hoặc bên thứ ba đang nắm giữ tiền, tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của doanh nghiệp, cơ quan thuế có quyền yêu cầu bên thứ ba thực hiện nộp thay tiền nợ thuế.

Bên thứ ba có nghĩa vụ cung cấp thông tin và thực hiện nộp thay trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định cưỡng chế. Số tiền bên thứ ba nộp thay cho cơ quan thuế sẽ được pháp luật thừa nhận là khoản tiền đã thanh toán trực tiếp cho doanh nghiệp bị cưỡng chế.

Biện pháp 6: Kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên (Điều 71)

Theo quy định chi tiết tại Điều 71 Nghị định số 252/2026/NĐ-CP, quy trình và biện pháp thực hiện kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên được tiến hành rất chặt chẽ theo các bước và căn cứ pháp lý sau đây:

Bước 1: Xác minh thông tin tài sản của người nộp thuế (Khoản 4 Điều 71)

Trước khi tiến hành kê biên, cơ quan quản lý thuế không được tự ý thực hiện mà bắt buộc phải trải qua khâu xác minh thông tin tài sản để bảo đảm tính chính xác và hợp pháp:

  • Thẩm quyền xác minh: Cơ quan quản lý thuế có quyền gửi văn bản yêu cầu xác minh đến người nộp thuế bị cưỡng chế, cơ quan đăng ký quyền sở hữu tài sản (như Văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan đăng ký phương tiện giao thông), cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm và các tổ chức, cá nhân có liên quan.
  • Xác minh thực tế: Cơ quan thuế có quyền trực tiếp xuống địa bàn nơi người nộp thuế cư trú hoặc nơi đặt trụ sở kinh doanh để xác minh tài sản.
  • Nội dung xác minh: Thu thập thông tin về số lượng tài sản, giá trị tài sản phản ánh trên sổ sách kế toán, kết quả sản xuất kinh doanh (đối với tổ chức), hoặc thông tin sở hữu thông qua chính quyền địa phương và cơ quan chức năng (đối với tài sản phải đăng ký của cá nhân).
  • Lập biên bản xác minh: Sau khi có kết quả, cơ quan quản lý thuế bắt buộc phải lập biên bản với người nộp thuế bị cưỡng chế để xác định rõ số lượng, nội dung các tài sản thuộc diện kê biên, đồng thời yêu cầu người nộp thuế cung cấp các hồ sơ, tài liệu chứng minh quyền sở hữu tài sản đó.
  • Lưu ý pháp lý: Nếu các tổ chức, cá nhân liên quan từ chối hoặc không cung cấp đủ thông tin tài sản, cơ quan thuế sẽ ngừng biện pháp này và chuyển sang áp dụng các biện pháp cưỡng chế khác.

Bước 2: Phối hợp với chính quyền địa phương nơi có tài sản (Khoản 5 Điều 71)

Vì cơ quan thuế không có chức năng trực tiếp cưỡng đoạt tài sản vật chất, pháp luật yêu cầu phải có sự phối hợp chặt chẽ với chính quyền sở tại:

  • Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày lập biên bản xác minh tài sản, cơ quan quản lý thuế phải gửi văn bản đề nghị kèm theo danh mục tài sản thuộc diện kê biên đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người nộp thuế phát sinh nợ thuế có tài sản để phối hợp thực hiện cưỡng chế.
  • Trường hợp tài sản cần kê biên nằm rải rác trên địa bàn của nhiều xã, phường khác nhau trong cùng một tỉnh, văn bản đề nghị phối hợp sẽ được gửi lên Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để điều phối.

Bước 3: Ban hành và gửi quyết định cưỡng chế kê biên (Khoản 6 Điều 71)

  • Thẩm quyền ban hành: Quyết định cưỡng chế bằng biện pháp kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc cấp xã ban hành và gửi trực tiếp cho người nộp thuế bị cưỡng chế.
  • Phối hợp phong tỏa tài sản: Đối với các tài sản thuộc diện phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng (như đất đai, xe cộ), quyết định cưỡng chế này sẽ đồng thời được gửi ngay cho các cơ quan chuyên trách bao gồm:
    • Văn phòng đăng ký đất đai (đối với quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất).
    • Cơ quan đăng ký phương tiện giao thông (đối với xe cộ, tàu thuyền).
    • Các cơ quan đăng ký quyền sở hữu khác theo quy định.
    • Mục đích: Ngăn chặn ngay lập tức mọi giao dịch chuyển nhượng, tặng cho, cầm cố hoặc thế chấp tài sản này ra bên ngoài.

Bước 4: Tổ chức thi hành kê biên và đấu giá tài sản (Khoản 10 Điều 71)

  • Sau khi quyết định cưỡng chế có hiệu lực, việc thực hiện kê biên thực tế, bảo quản tài sản kê biên và tổ chức bán đấu giá sẽ được cơ quan thi hành cưỡng chế thực hiện theo các trình tự và thủ tục nghiêm ngặt (dẫn chiếu chi tiết từ Điều 24 đến Điều 35 của Nghị định số 296/2025/NĐ-CP của Chính phủ).

Bước 5: Xử lý dòng tiền thu được sau khi bán đấu giá (Khoản 7 Điều 71)

Khi tài sản đã được bán đấu giá thành công, số tiền thu về không nộp thẳng toàn bộ vào thuế mà phải phân bổ theo thứ tự ưu tiên pháp định như sau:

  1. Thanh toán chi phí cưỡng chế: Người nộp thuế bị cưỡng chế phải chịu mọi chi phí phát sinh cho hoạt động cưỡng chế này. Số tiền đấu giá trước hết được trích ra để thanh toán các chi phí này.
  2. Nộp tiền thuế nợ: Trích nộp số tiền thuế nợ, tiền chậm nộp, tiền phạt theo đúng quyết định cưỡng chế vào Ngân sách Nhà nước.
  3. Hoàn trả tiền thừa: Sau khi đã khấu trừ đầy đủ hai khoản trên, nếu số tiền bán đấu giá vẫn còn thừa, cơ quan thi hành cưỡng chế có trách nhiệm trả lại số tiền thừa đó cho người nộp thuế bị cưỡng chế.

Đây là biện pháp cưỡng chế tài sản rất mạnh tay, đòi hỏi cơ quan quản lý thuế phải xác minh chính xác quyền sở hữu tài sản của người nộp thuế. Để đảm bảo tính nhân văn, các tài sản phục vụ trực tiếp cho đời sống thiết yếu và an sinh công cộng tuyệt đối không bị kê biên, bao gồm:

  • Thuốc chữa bệnh, trang thiết bị y tế dùng để khám chữa bệnh.
  • Lương thực, thực phẩm, dụng cụ ăn uống thiết yếu.
  • Nhà trẻ, trường học và trang thiết bị thuộc các cơ sở này.
  • Trang thiết bị bảo đảm an toàn lao động, phòng chống cháy nổ, bảo vệ môi trường.
  • Trụ sở làm việc của doanh nghiệp.
  • Cơ sở hạ tầng công cộng phục vụ lợi ích chung, quốc phòng, an ninh.

Biện pháp 7: Nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản (Điều 72)

Nếu doanh nghiệp hoặc hợp tác xã không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký quá 03 năm, hoặc cơ quan thuế đã áp dụng liên tục các biện pháp cưỡng chế nêu trên trong suốt 03 năm trở lên nhưng vẫn không thể thu hồi được tiền nợ thuế, Thủ trưởng cơ quan thuế sẽ tiến hành nộp đơn yêu cầu tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp đó.

Biện pháp 8: Thu hồi giấy phép kinh doanh (Điều 73)

Đây là biện pháp “khai tử” hoạt động của một thực thể kinh tế. Khi doanh nghiệp chây ỳ nợ thuế kéo dài từ 03 năm trở lên mà các biện pháp cưỡng chế khác hoàn toàn bất lực, cơ quan thuế sẽ gửi văn bản đề nghị cơ quan đăng ký kinh doanh thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy phép thành lập. Trong vòng 03 ngày làm việc, cơ quan đăng ký kinh doanh bắt buộc phải thực hiện việc thu hồi này hoặc phản hồi lý do cụ thể bằng văn bản.

Câu hỏi thường gặp

Tài khoản ngân hàng của tôi bị phong tỏa do nợ thuế thu nhập cá nhân. Ngân hàng có tự ý trích nộp hết toàn bộ tiền lương hằng tháng của tôi cho cơ quan thuế hay không?

Không hoàn toàn như vậy. Căn cứ theo quy định tại Điều 66 và Điều 67 Nghị định số 252/2026/NĐ-CP, cần phân biệt rõ hai trạng thái:

  1. Nếu tài khoản nhận lương của bạn bị phong tỏa theo Biện pháp 1 (Điều 66), ngân hàng sẽ chỉ phong tỏa số dư tương ứng với số nợ thuế ghi trên quyết định cưỡng chế. Ngân hàng sẽ thực hiện trích nộp số tiền có sẵn trong tài khoản để thanh toán nợ thuế.
  2. Tuy nhiên, nếu cơ quan thuế chuyển sang áp dụng Biện pháp 2 (Khấu trừ một phần tiền lương – Điều 67) gửi trực tiếp đến cơ quan chi trả thu nhập (nơi bạn làm việc), thì đơn vị sử dụng lao động chỉ được phép khấu trừ từ 10% đến tối đa 30% tiền lương hằng tháng của bạn để nộp vào Ngân sách Nhà nước. Phần tiền lương còn lại vẫn phải được chi trả đầy đủ cho bạn để đảm bảo duy trì cuộc sống tối thiểu.

Doanh nghiệp tôi bị ngừng sử dụng hóa đơn do chậm nộp thuế GTGT, nhưng chúng tôi cần xuất một hóa đơn trị giá 100 triệu đồng cho khách hàng để lấy tiền về trả lương cho công nhân. Cơ quan thuế có hỗ trợ cấp hóa đơn lẻ không và thủ tục thế nào?

Có. Căn cứ vào Khoản 4 Điều 69 Nghị định số 252/2026/NĐ-CP, doanh nghiệp đang bị cưỡng chế ngừng sử dụng hóa đơn vẫn có thể được cơ quan thuế chấp thuận cấp hóa đơn lẻ theo từng lần phát sinh để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh thiết yếu.

Để được cấp hóa đơn lẻ này, doanh nghiệp phải làm văn bản đề nghị gửi cơ quan thuế và cam kết nộp ngay tối thiểu 18% tổng giá trị thanh toán trên hóa đơn (ở đây là nộp ngay ít nhất 18 triệu đồng đối với hóa đơn trị giá 100 triệu đồng) vào Ngân sách Nhà nước để trừ vào số nợ thuế. Số tiền thuế nộp trước này chính là điều kiện tiên quyết để hệ thống mở khóa cấp hóa đơn lẻ cho doanh nghiệp bạn.

Cơ quan thuế gửi quyết định yêu cầu công ty đối tác của tôi (bên thứ ba) nộp thay tiền nợ thuế từ khoản tiền đối tác đang nợ công ty tôi. Đối tác của tôi có quyền từ chối thực hiện không? Nếu họ từ chối thì họ có bị phạt không?

Đối tác của bạn không có quyền từ chối. Theo quy định tại Điều 70 Nghị định số 252/2026/NĐ-CP, khi cơ quan thuế có đầy đủ chứng cứ pháp lý xác định bên thứ ba đang có khoản nợ đến hạn phải trả cho doanh nghiệp bị cưỡng chế, cơ quan thuế sẽ ban hành quyết định cưỡng chế thu tiền từ bên thứ ba.

Bên thứ ba có trách nhiệm cung cấp thông tin và nộp thay số tiền nợ thuế trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận quyết định. Khoản nộp thay này được pháp luật thừa nhận là khoản thanh toán hợp pháp cho doanh nghiệp của bạn. Nếu đối tác cố tình từ chối thực hiện mà không có lý do bất khả kháng, họ sẽ bị xem là vi phạm nghĩa vụ phối hợp trong quản lý thuế và có thể bị xử lý vi phạm hành chính, đồng thời chịu trách nhiệm liên đới theo quy định của pháp luật quản lý thuế.

Gia đình tôi chỉ có duy nhất một căn nhà đang ở nhưng đang nợ thuế sử dụng đất phi nông nghiệp số tiền lớn. Cơ quan thuế có quyền kê biên đấu giá căn nhà duy nhất này của gia đình tôi không?

Cơ quan thuế có quyền kê biên đất đai và nhà ở gắn liền với đất nếu có đầy đủ giấy chứng nhận quyền sở hữu hợp pháp của bạn. Tuy nhiên, việc kê biên tài sản nhà ở của cá nhân là biện pháp cưỡng chế rất nghiêm ngặt (Điều 71).

Trước khi thực hiện kê biên, cơ quan thuế phải tiến hành xác minh thông tin tài sản và làm việc với chính quyền địa phương. Pháp luật chỉ quy định cấm kê biên đối với trụ sở làm việc của doanh nghiệp chứ không có quy định cấm kê biên đối với nhà ở duy nhất của cá nhân nộp thuế. Dẫu vậy, cơ quan thuế luôn ưu tiên áp dụng các biện pháp nhẹ hơn trước như trích tài khoản ngân hàng hoặc khấu trừ lương trước khi tiến hành kê biên tài sản vật chất của cá nhân nhằm hạn chế tối đa ảnh hưởng đến đời sống của người dân.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *